🔥 Tin mới

Những tác động tiêu cực của video ngắn đối với thế hệ trẻ: Từ nghiện thuật toán đến mất khả năng phân biệt thực tế

Video ngắn trên các nền tảng mạng xã hội kết hợp với công nghệ AI đang tạo ra những "ma trận nội dung" khiến trẻ em khó thoát ra, gây hại đến khả năng tư duy, sự tập trung và khả năng phân biệt thật - giả. Vấn đề này đòi hỏi sự phối hợp từ nhiều phía để bảo vệ sức khỏe thế hệ trẻ.

Lê Hoàng Nam02:56 Thứ Năm, 27/08/2026265.0K lượt xem
Những tác động tiêu cực của video ngắn đối với thế hệ trẻ: Từ nghiện thuật toán đến mất khả năng phân biệt thực tế

Các nền tảng mạng xã hội với hình thức video ngắn đang ngày càng trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của giới trẻ, song cùng với đó là những nguy cơ thực tế đối với sức khỏe, tư duy và khả năng nhận thức của các em. Bên cạnh những nội dung do AI tạo ra, các vấn đề như phát tán thông tin giả, gây thói quen xem quá mức và nhiều tác hại khác đang đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc bảo vệ trẻ em trên không gian mạng.

Trong cuộc trao đổi với báo chí, đại biểu Tạ Văn Hạ, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đã chỉ ra rằng những đoạn video chỉ kéo dài vài chục giây với lịch trình nhanh chóng, hình ảnh hấp dẫn và cơ chế "vuốt để xem tiếp" đã tạo nên một trải nghiệm liên tục mà người dùng khó có thể dừng lại. Đặc điểm này làm cho việc xem video ngắn dễ dàng chuyển từ nhu cầu giải trí thành một thói quen khó kiểm soát, đặc biệt ở nhóm trẻ em.

Nhiều em học sinh đã trở nên "nghiện" video ngắn đến mức mất đi cảm xúc thực, không còn khả năng phân biệt sự thật và giả tạo, sống và chết. Các thuật toán mà các nền tảng sử dụng ngày nay đều dựa trên AI để phân tích chi tiết từng giây, thậm chí từng phần trăm giây hoạt động của người dùng - cách họ dừng lại xem, liệu có yêu thích hay chia sẻ, những tương tác khác như bình luận hay không. Dựa trên những thông tin này, thuật toán liên tục cải thiện việc cung cấp nội dung, chỉ đẩy những nội dung phù hợp với sở thích cá nhân, tạo ra một "ma trận nội dung" vừa vặn khiến người dùng rất khó thoát ra vì cảm giác hối tiếc.

Đại biểu Tạ Văn Hạ nhấn mạnh rằng xu hướng video ngắn hiện tại gây hại lớn bởi nó khiến trẻ em mất đi khả năng suy tư, mất sự tập trung, chỉ muốn làm mọi thứ trong thời gian ngắn. Hơn nữa, khi tiếp xúc với video ngắn, các nội dung này ngày một đa dạng, từ xu hướng vui nhộn này chuyển sang xu hướng khác và rất dễ phát triển thành những xu hướng có hại.

Về khía cạnh này, GS.TS Nguyễn Quý Thanh, nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng sự ra đời của Internet và mạng xã hội đã làm thay đổi môi trường truyền thông một cách đáng kể. Nếu phương tiện truyền thông truyền thống chủ yếu tập trung vào lựa chọn và phản ánh những sự kiện có thật, thì mạng xã hội mở ra cánh cửa để bất kỳ ai cũng có thể sáng tạo, chỉnh sửa và lan tỏa nội dung. Do đó, khoảng cách giữa thế giới thực và thế giới trên màn hình có thể ngày một xa hơn, tạo ra những tin tức không chính xác, nội dung được sắp đặt, thậm chí hoàn toàn không liên quan đến hiện thực đời sống.

Điều đáng lo ngại hơn nữa là với bước tiến của AI, việc tạo ra những bức ảnh, video, giọng nói và nhân vật sống động ngày càng trở nên dễ dàng hơn. Nếu những nội dung này được sản xuất một cách kỹ lưỡng, người xem sẽ gặp khó khăn rất lớn trong việc phân biệt đâu là tác phẩm công nghệ và đâu là sự việc thực tế. Đối với trẻ em, rủi ro này càng đáng quan tâm vì các em thường chưa có đủ kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng để xác minh thông tin.

Khi bàn về ảnh hưởng của mạng xã hội đến tâm lý, PGS.TS Trần Thành Nam, chuyên gia tâm lý và Hiệu trưởng Trường đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng tác động này có nhiều chiều và phụ thuộc vào mục đích sử dụng cũng như đặc điểm riêng của từng cá nhân. Ở góc độ tích cực, mạng xã hội giúp thanh thiếu niên duy trì kết nối với bạn bè, gia đình và những nhóm có sở thích tương đồng, đồng thời tìm kiếm hỗ trợ.

Tuy nhiên, khi thiếu kỹ năng nhận diện và kiểm soát rủi ro, trẻ có thể phải đối mặt với nội dung độc hại, những người lạ có nội tâm xấu, sự bắt nạt, quấy rối trực tuyến hoặc những giao dịch thương mại không an toàn. Đặc biệt là tình trạng sử dụng mạng xã hội vượt quá mức cần thiết, mất kiểm soát hoặc bị lệ thuộc.

Theo báo cáo từ PGS Trần Thành Nam, trong 11 nghiên cứu được tiến hành tại Việt Nam, 8 nghiên cứu xác nhận mối liên hệ giữa lệ thuộc kỹ thuật số và trầm cảm; 6 nghiên cứu ghi nhận mối liên hệ với lo lắng; 5 nghiên cứu phát hiện các vấn đề như căng thẳng, cô lập, rối loạn giấc ngủ và suy giảm chất lượng cuộc sống. Tuy vậy, những kết quả này không có nghĩa là mạng xã hội trực tiếp gây ra những vấn đề này. Mối quan hệ có thể diễn ra hai chiều: sử dụng mạng xã hội không lành mạnh có thể làm tình trạng lo lắng, trầm cảm nặng thêm, nhưng những trẻ gặp khó khăn tâm lý cũng có xu hướng tìm đến mạng xã hội nhiều hơn.

Ngoài ra, khi trẻ thường xuyên tiếp xúc với những hình ảnh, thành quả và cách sống được chọn lọc của người khác, các em dễ so sánh với cuộc sống thực tế của mình và cảm thấy bản thân kém cỏi, không đủ tốt. Số lượng "thích", bình luận hay lượng người theo dõi cũng có thể khiến một số trẻ gắn kết giá trị bản thân với mức độ công nhận trên không gian ảo.

Chuyên gia cảnh báo rằng lạm dụng mạng xã hội và liên tục tiếp nhận thông tin tiêu cực, không phù hợp có thể làm tăng cảm giác cô lập, lo âu, trầm cảm, áp lực tâm lý, thậm chí có liên quan đến những suy nghĩ và hành động có nguy hiểm cho bản thân.

Để giải quyết vấn đề này, đại biểu Tạ Văn Hạ nhấn mạnh rằng cần sự hợp tác toàn diện từ tất cả các bên liên quan bao gồm nhà trường, cha mẹ và xã hội. Từ phía cha mẹ, điều quan trọng là giám sát có mục đích chứ không phải kiểm soát hoàn toàn. Thay vì cấm cứng, cha mẹ nên xem cùng con em, thảo luận về nội dung các em đang tiếp xúc, giải thích sự khác biệt giữa thực tế và nội dung AI tạo, chỉ ra những nguy hiểm tiềm ẩn, và đặt ra những giới hạn thời gian hợp lý khi xem video ngắn.

Từ phía nhà trường và giáo viên, cần trao đổi và hướng dạy cho học sinh cách nhận biết nội dung sinh ra bởi AI, phát triển kỹ năng đánh giá tính xác thực của thông tin, thảo luận về đạo đức cũng như trách nhiệm khi tạo ra hoặc chia sẻ nội dung số.

Đại biểu Tạ Văn Hạ cũng chỉ rõ rằng trách nhiệm của các nền tảng mạng xã hội trong việc ngăn chặn thông tin xấu độc là rất lớn. Các nền tảng này đang khai thác dựa trên sự thu hút, tập trung chú ý của người dùng để tạo ra lợi nhuận, chẳng hạn như giữ chân người dùng để hiển thị quảng cáo từ các thương hiệu. Rõ ràng các nền tảng đang tạo lợi tức từ những thuật toán gây nghiện, những cách hiểu người dùng, dựa vào AI để xử lý dữ liệu người dùng, lôi kéo và giữ chân người dùng.

Khi các nền tảng sinh lợi từ người dùng, chúng sẽ phải chịu trách nhiệm, không được để người dùng tự mình giải quyết các nội dung trên không gian ảo. Bởi khi người dùng bị ảnh hưởng trực tiếp dẫn đến hiểu biết sai lệch, sẽ ảnh hưởng đến hành động ngoài xã hội và mất đi tính chuẩn mực.

Một giải pháp khác là cần nâng cao ý thức người dùng, giúp họ hiểu rõ những rủi ro và tự chủ động ứng xử phù hợp. Video ngắn cũng giống như những chất gây nghiện và ở đây là chất gây nghiện số, người dùng phải có những kế hoạch hành động với những đoạn video này, ví dụ như đặt ra những khoảng thời gian xem tối đa, tránh xem liên tiếp...

Bản thân người dùng cần chọn lựa những kênh có nội dung sạch sẽ, hữu ích; ưu tiên những nền tảng tuân thủ đúng đủ những yêu cầu và quy định của pháp luật, tránh tham gia những nền tảng có nội dung lệch lạc. Những hướng dẫn này cũng giúp người dùng ứng xử tốt hơn, phù hợp hơn với không gian ảo đầy những nội dung nguy hiểm.

Theo GS Nguyễn Quý Thanh, giải pháp trước tiên cần khởi động từ khuôn khổ pháp lý. Cần tiếp tục kiểm tra, hoàn thiện các quy định liên quan đến bảo vệ trẻ em, an toàn trên mạng, trách nhiệm của gia đình, nhà trường và đặc biệt là trách nhiệm của các nền tảng trong việc kiểm soát nội dung mà trẻ em có thể tiếp cận.

Quan trọng hơn cả, cần tuyên truyền để người dùng, nhất là trẻ em nhận thức được rằng những gì xuất hiện trên màn hình chỉ là một khía cạnh của hiện thực và trong kỷ nguyên AI, không phải là những sự vật, sự kiện thực tế.

"Trách nhiệm này phải được chia sẻ giữa Nhà nước, các nền tảng công nghệ, nhà trường và gia đình. Khi ranh giới giữa thực tế và tạo tác ngày càng mờ nhạt, năng lực phân biệt thông tin và tư duy phê phán sẽ trở thành một kỹ năng cần thiết để trẻ tự bảo vệ mình trong không gian số", GS Thanh nhấn mạnh.

Bình luận (0)

Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên!