Tài liệu mật phục của Pháp tiết lộ chi tiết chuyến thăm 99 ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại nước Pháp năm 1946
Hồ sơ mật thám Pháp BA.2346 ghi lại những thông tin hiếm có về chuyến thăm kéo dài 99 ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nước Pháp năm 1946, trong đó Người đã thực hiện cuộc ngoại giao đặc biệt nhằm tìm kiếm cơ hội hòa bình trong bối cảnh Việt Nam bị bao vây bởi những thách thức từ phía trong lẫn ngoài.

Chương trình đặc biệt về Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa lên sóng kể về hành trình dài 99 ngày của Người tại Paris, đi sâu vào trung tâm quyền lực Pháp để tìm cơ hội đạt được hòa bình. Lúc bấy giờ, Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn kép: ở phía Nam, quân Pháp tiến hành chiếm đóng lại từ tháng 9 năm 1945; phía Bắc, 200 nghìn binh sĩ Trung Quốc ào vào dưới danh nghĩa liên minh nhưng với mục đích lật đổ chính quyền. Ở trong nước, dân cư thiếu lương thực, ngân sách trống rỗng và những vấn đề xã hội ngày càng trầm trọng.
Trong suốt thời gian ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn luôn bị theo dõi chặt chẽ bởi mạng lưới thông tin liên lạc của Pháp. Hồ sơ BA.2346 của cơ quan an ninh Pháp đã cập nhật thường xuyên những báo cáo hằng ngày liên quan đến các hoạt động của Người. Các nhân viên tình báo Pháp ghi nhận những âm mưu gây bạo loạn, thậm chí cả những kế hoạch ám sát Người từ phía các nhóm cực đoan.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh rời khỏi Đông Dương, vị Cao ủy D'Argenlieu đã cố gắng phá hoại bằng cách thành lập Cộng hòa tự do Nam Kỳ. Đứng trước lựa chọn giữa quay về chấp nhận chiến tranh hoặc tiếp tục nỗ lực, Người quyết định kiên trì để chứng minh thiện chí của Việt Nam trước dư luận Pháp và thế giới. Theo cán bộ lưu trữ Arnaud Dimeo từ Cơ quan Lưu trữ lịch sử và văn hóa thuộc Sở Cảnh sát Paris, đây là quyết định đầy rủi ro nhưng xứng đáng. Nếu có thể giải quyết vấn đề độc lập của Việt Nam và Đông Dương bằng đường hòa bình, hai dân tộc sẽ tránh được một cuộc đổ máu vô ý nghĩa.
Một thông tin đáng chú ý khác được ghi trong hồ sơ mật là các nhân viên tình báo Pháp và cộng đồng người Việt ở Pháp phát hiện rằng Ngân hàng Đông Dương đã đưa ra đề xuất trao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh 30 tỉ Franc (tương đương với 223 tấn vàng tại thời điểm đó) nhằm thuyết phục Người từ bỏ hoạt động đấu tranh vì độc lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từ chối quyết liệt, không buôn bán nền độc lập của quốc gia. Nhà sử học Alain Ruscio cho rằng đây là biện pháp thông thường để tìm cách lôi kéo những nhân vật hoạt động cách mạng. Ông nói: "Có những người đã rơi vào bẫy. Có những người đã giữ vững nguyên tắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh là chứng minh sống cho điều đó".
Giáo sư Pierre Asselin từ Đại học Diago, Mỹ, nhận định rằng nước Pháp nhận thấy sự hiện diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cản trở đối với những người muốn tái lập cơ chế thuộc địa ở Đông Dương. Ngân hàng Đông Dương cố gắng giảm thiểu ảnh hưởng của Người, muốn ông quay về đất nước sớm nhất có thể.
Phim tài liệu cũng phân tích lý do tại sao khả năng chinh phục lòng người trở thành một trong những di sản ngoại giao đặc biệt của Người. Hội nghị Pháp - Việt tại lâu đài Fontainebleau (khai mạc vào ngày 6 tháng 7 năm 1946) và cuộc chiến truyền thông khốc liệt phía sau khung cửa đàm phán diễn ra trong tình thế rất căng thẳng. Những lực lượng thực dân hiếu chiến vận dụng hệ thống báo chí thuộc phe phải tại Pháp, liên tục công bố các bài viết bóp méo sự thật, vu khống về phái đoàn Việt Nam nhằm làm xao lệch thông tin.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không trực tiếp tham gia hội nghị mà mang tư cách khách quý của Chính phủ Pháp. Trách nhiệm lãnh đạo cuộc thương lượng thuộc về ông Phạm Văn Đồng, người vừa làm trưởng đoàn vừa là người phát biểu chính thức của phái đoàn Việt Nam.
Nhà sử học Alain Ruscio đã so sánh rằng nếu tại bàn đàm phán, phái đoàn Việt Nam tiến hành cuộc đấu trí trực tiếp, sắc sảo nhằm bóc lộ âm mưu của đối phương thì tại Paris là một mặt trận ngoại giao nhân dân với nét lịch lãm, tươi cười của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo ông, hai chiến trường này bổ sung hoàn hảo cho nhau.
Trong khi phái đoàn Việt Nam cân nhắc từng chi tiết của các hiệp định tiềm tàng, Người liên tục chủ trì các cuộc họp báo, tổ chức gần 400 cuộc tiếp xúc rộng rãi với nhiều tầng lớp của xã hội Pháp; đồng thời duy trì mối liên kết mật thiết với cộng đồng kiều bào Việt Nam tại Paris. Thông điệp nhất quán của Người là "muốn hợp tác chân thành, hữu nghị với Pháp chứ không phản đối Pháp". Những cử chỉ tao nhã, chẳng hạn như tự tay hái hoa hồng tặng các nữ ký giả hay mối tình bạn sâu sắc vượt qua mọi ranh giới chính trị với gia đình nhà kháng chiến chống phát xít Raymond Aubrac, đã tạo nên một ấn tượng sâu sắc về một vị lãnh đạo quốc gia lịch lãm, nhân ái và hoàn toàn khác biệt với các chính trị gia phương Tây.
Tờ báo nổi tiếng Le Monde ngày 12 tháng 7 năm 1946 ghi lại khi các phóng viên hỏi: "Nếu Nam Kỳ từ chối là một phần của Việt Nam, ông sẽ làm gì?", Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ngay: "Nam Kỳ hoàn toàn là lãnh thổ của Việt Nam. Đó là thịt của thịt chúng tôi, máu của máu chúng tôi". Người nhấn mạnh khẳng định này dựa trên những bằng chứng không thể phủ nhận về dân tộc học, lịch sử và nền văn hóa.
Đối với các kiều bào ở Pháp, Người gần gũi như một thành viên trong gia đình. Ở Biarritz, Người sẵn sàng ngồi trò chuyện với cậu bé tên Francois Triệu, người bị khuyết tật ở chân. Tại Paris ngày 15 tháng 7 năm 1946, trước sự tập trung của hơn 2.000 kiều bào, ông Nguyễn Văn Bổn - Chủ tịch danh dự Hội người Việt Nam tại Pháp - kể lại Người đã nhắc nhở đồng bào xa xứ rằng mỗi người phải là "một đại sứ Việt Nam, đại diện cho một dân tộc đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập và tự do". Người mong mỏi mỗi kiều bào phải cố gắng học tập, làm việc hết sức để quay về xây dựng đất nước. Người nói "Tổ quốc trên hết, dân tộc trên hết".
Hồ sơ BA.2346 cũng ghi nhận một động thái quyết liệt khi Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư trực tiếp cho Bộ trưởng Bộ Hải ngoại Pháp lúc bấy giờ để yêu cầu can thiệp, bảo vệ quyền nhân bản và công bằng cho hàng vạn quân nhân Đông Dương đang bị bóc lột tại Pháp. Hành động này buộc Chính phủ Pháp phải nhượng bộ và ký kết một bản thỏa thuận chưa có tiền lệ.
Vào giữa tháng 9 năm 1946, ngay trước khi lên tàu về nước, Người còn tự mình đến ga Saint-Charles ở Marseille để gặp gỡ và phát biểu đầy cảm xúc trước 4.000 quân nhân Đông Dương - những nông dân bị cưỡng bức nhập ngũ từ năm 1939 để làm việc trong các nhà máy vũ khí Pháp.
Ngày 10 tháng 9 năm 1946, sau những ngày tranh cãi gay gắt và bế tắc trước tham vọng thực dân của Pháp, Hội nghị Fontainebleau không đạt được kết quả, phái đoàn Việt Nam rời khỏi Paris để về nước. Người quyết định ở lại Pháp một mình trong tình thế nguy hiểm, khai thác mọi cơ hội ngoại giao cuối cùng để cứu vãn nền hòa bình đang lung lay.
Vào đêm ngày 14 tháng 9, Người đích thân đến nhà riêng của Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Marius Moutet và cùng ký bản tạm ước. Dù không có hiệu lực pháp lý ràng buộc, nhưng theo Giáo sư, nhà sử học Pierre Journoud, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đạt được thành công với văn kiện này. Qua đó, Người bắt Chính phủ Pháp phải cam kết sâu hơn với con đường đối thoại và hòa bình.
Nước cờ hoãn binh này giúp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trẻ thơ tranh thủ được từng ngày quý báu của hòa bình để chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến tranh thảm khốc mà Người biết sẽ khó có thể tránh khỏi.
Sau đó, Người cũng lên đường về nước. Kiều bào đứng dày đặc hai bên đường. Ngay cả những phút cuối cùng trước khi khởi hành, nỗ lực ngoại giao của Người vẫn tiếp tục. Người gửi lại một thông điệp đặc biệt: "Cả đời tôi đã đấu tranh chống lại thực dân Pháp. Nhưng tôi luôn yêu mến và tôn trọng nhân dân Pháp - một nước Pháp mới, một nước Pháp lên án chủ nghĩa đế quốc và thực dân, ủng hộ cuộc đấu tranh của chúng tôi. Vì lẽ đó, chúng tôi mong muốn hợp tác thành thật với Pháp để thực hiện những nguyên tắc tự do, bình đẳng và博ái".
Trong cuốn sách "Việt Nam: Chúng ta đã sa lầy như thế nào, làm sao để thoát ra" (xuất bản đầu năm 1968, trong thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ sành sùi nhất), nhà báo Mỹ David Schoenbrun đã ghi chép ký ức về cuộc phỏng vấn với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Paris ngày 11 tháng 5 năm 1946. Khi ông David hỏi làm sao Việt Nam có thể hy vọng đánh bại quân đội hiện đại, được đào tạo và trang bị tốt của Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Việt Nam sở hữu một vũ khí bí mật mạnh hơn bất kỳ vũ khí hiện đại nào, đó chính là truyền thống dân tộc Việt Nam.
"Cuộc chiến này sẽ là cuộc chiến giữa một con hổ và một con voi. Nếu con voi Pháp bắt được con hổ Việt Nam ở nơi trống trải, nó sẽ dùng cặp ngà to khổng lồ đâm xuyên và giẫm nát hổ dưới chân. Nhưng con hổ sẽ không bao giờ để bị bắt. Ban ngày hổ ẩn mình trong rừng núi, ban đêm lẻn ra nhảy lên lưng voi và xé từng mảnh thịt của nó. Dần dần, con voi Pháp sẽ kiệt sức, mất máu rồi ngã gục và chết trên những thửa ruộng lúa của Việt Nam. Cuộc chiến có thể kéo dài 5 năm, 10 năm hay 20 năm, nhưng cuối cùng hổ sẽ giành chiến thắng và con voi sẽ thất bại", theo sách ghi.
Cuộc gặp đó đã có tác động và thúc đẩy lương tâm của David Schoenbrun, khiến ông sau đó trở thành một trong những tiếng nói phản chiến mạnh mẽ nhất chống lại cuộc xâm lược của Mỹ tại Việt Nam.
Từng tận mắt chứng kiến kết cục của quân Pháp tại Điện Biên Phủ, ông viết trong sách để cảnh báo nước Mỹ: "Nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ đầu hàng chúng ta. Họ sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Các ông không thể khuất phục được những con người như vậy".
Khoảnh khắc Bác dẫn nhịp bài ca Kết đoàn được nhắc đến lại trong chương trình bài ca Kết đoàn thật động lòng, càng có ý nghĩa sâu sắc trong những ngày thành phố Hồ Chí Minh tưng bừng các hoạt động kỷ niệm Quốc khánh 2 tháng 9.

Bình luận (0)
Chưa có bình luận. Hãy là người đầu tiên!